THẨM PHÁN TRẺ: SỨ MỆNH, NIỀM TIN VÀ CƠ HỘI DẤN THÂN!

THẨM PHÁN TRẺ: SỨ MỆNH, NIỀM TIN VÀ CƠ HỘI DẤN THÂN!

Trước thềm kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống Tòa án nhân dân (13/9/1945 – 13/9/2020), vinh dự là một Thẩm phán đang công tác trong hệ thống Tòa án nhân dân, tôi mạnh dạn nêu lên quan điểm, suy nghĩ của mình về sứ mệnh, niềm tin và cơ hội dấn thân của đội ngũ Thẩm phán trẻ thuộc hệ thống Tòa án nhân dân trong thời đại mới.

  1. Sứ mệnh nhân danh Nhà nước là trọng trách trước Đảng và nhân dân

Quyền Tư pháp lần đầu tiên được xuất hiện trong tác phẩm Tinh thần pháp luật của Montesquieu, tác giả này giải thích: Quyền Lập pháp là quyền làm ra luật, quyền Hành pháp là quyền quyết định việc hòa hay chiến, gửi đại sứ đi các nước, thiết lập an ninh, đề phòng xâm lược, còn quyền Tư pháp là quyền trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp giữa các cá nhân. Trong lịch sử hình thành, phát triển các kiểu nhà nước, trong bất cứ chính thể nào, khi mà kiểu nhà nước đó đã định danh được các quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp thì sứ mệnh của Tòa án là thực thi quyền tư pháp – một nội dung của quyền lực Nhà nước. Đến nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều sử dụng đến quyền tư pháp và tổ chức thực hiện quyền tư pháp thông qua cơ quan tư pháp, hoạt động tư pháp.

Lịch sử hình thành, xây dựng và phát triển hệ thống Tòa án nhân dân ở nước ta đặt trong lịch sử hình thành và phát triển Nhà nước ta 75 năm qua, điều đó cho thấy sứ mệnh của Tòa án nhân dân gắn liền với sứ mệnh của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phát triển các quy định của các bản Hiến pháp trước, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, Hiến pháp năm 2013 quy định“Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.”

Trong hệ thống Tòa án nhân dân, đội ngũ Thẩm phán là lực lượng lao động nòng cốt, kết quả công tác của Thẩm phán quyết định hiệu quả của hệ thống Tòa án nhân dân trong thực hiện quyền tư pháp, bởi không phải Tòa án hoặc một chức danh tư pháp nào khác mà chỉ có Thẩm phán, Hội đồng xét xử mới nhân danh Nhà nước thực hiện quyền tư pháp. Tại lời nói đầu của Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán được Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia ban hành năm 2018 xác định: “Thẩm phán là người được Chủ tịch nước bổ nhiệm để nhân danh Nhà nước thực hiện quyền tư pháp. Trọng trách của Thẩm phán rất nặng nề, sứ mệnh của Thẩm phán rất cao quý. Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đảng, Nhà nước và Nhân dân yêu cầu các Thẩm phán phải thực hiện nhiệm vụ một cách vô tư, khách quan, thượng tôn pháp luật; đòi hỏi các Thẩm phán phải trở thành biểu tượng của đạo đức thanh liêm, tuân thủ những nguyên tắc của Hiến pháp về hoạt động tư pháp, thực hiện được lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thẩm phán phải “Phụng công, thủ pháp, chí công vô tư” và “Gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân”.

Dù kinh qua các điều kiện làm việc từ đơn giản đến phức tạp, trong chiến tranh, ở thời bình hay trước yêu cầu hội nhập sâu rộng, sứ mệnh nhân danh Nhà nước đã được các thế hệ Thẩm phán trong hệ thống Tòa án nhân dân đảm nhận và khẳng định, như trong lời phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị triển khai công tác Tòa án năm 2019 là “…Những đóng góp bền bỉ, thầm lặng của các thế hệ cán bộ, Thẩm phán đã làm nên truyền thống tốt đẹp của ngành Tòa án; luôn được Đảng, Nhà nước, nhân dân ghi nhận và trân trọng…”.

Sinh ra, trưởng thành, được giáo dục và vinh dự công tác trong hệ thống Tòa án nhân dân ở thời bình, thừa hưởng thành quả, công sức của các thế hệ Thẩm phán đi trước để lại, đội ngũ Thẩm phán trẻ hôm nay phải nhận thức rõ sứ mệnh và trọng trách của họ, không chỉ nhân danh Nhà nước tiếp nối truyền thống 75 năm xây dựng và phát triển hệ thống Tòa án nhân dân, mà còn đảm bảo thực thi quyền tư pháp trong thời đại mới với năng lực, tâm thế, bản lĩnh vững vàng, sánh vai với các nền tư pháp tiên tiến trên thế giới, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhân dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Vì lẽ đó, đối với Thẩm phán, suy cho cùng, đảm trách và thực thi sứ mệnh nhân danh Nhà nước trong thực hiện quyền tư pháp không chỉ là niềm vinh dự mà chính là trách nhiệm lớn nhất, lâu dài, sau cùng của Đảng và Nhân dân đã giao – sứ mệnh gắn với cả cuộc đời, sự nghiệp mỗi Người Thẩm phán nhân dân!

  1. Niềm tin công lý

Công lý được xem là một trong những giá trị cốt lõi, nền tảng để thực hiện quản lý xã hội vì lợi ích của nhân dân. Công lý trước hết được quan niệm là sự tôn trọng tự do và các quyền cá nhân, sự tôn trọng con người và phẩm giá con người như những mục đích tự thân. Trong xã hội hiện đại, công lý là điều kiện tiên quyết cho cuộc sống tốt đẹp, là phẩm hạnh thiết yếu của một xã hội văn minh, hòa bình, hợp tác, tiến bộ, trật tự và ổn định.

Nhiều quan điểm tiến bộ cho rằng: một quốc gia văn minh phải được quản lý trên cơ sở nền tảng của đạo lý, công lý, lẽ công bằng. Công lý ở nhà nước ta, trong thời kỳ hội nhập, suy cho cùng là phát huy giá trị cốt lõi của truyền thống đạo lý, văn hóa của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế, bảo vệ lẽ phải, bảo vệ công bằng, vì độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân và nhân loại, vì một Việt Nam hùng cường.

Thực tế, trong lịch sử xây dựng và phát triển hệ thống Tòa án nhân dân, đằng sau từng bản án đã xét xử, sâu hơn pháp luật là lòng nhân, là tình người; mục tiêu của xét xử không chỉ là bảo vệ pháp luật, bảo vệ nhà nước, bảo vệ quyền, lợi hợp pháp của cá nhân, tổ chức mà hướng cho nhân dân lấy nhân, dựa vào đạo lý dân tộc ngàn đời để sửa mình; khi cần Nhà nước sẽ áp dụng pháp luật với nguyên tắc pháp luật là thượng tôn và với yêu cầu “Quốc pháp vô thân”. Hơn ai hết, mỗi Thẩm phán trẻ đã được nuôi dạy, rèn luyện và thấm nhuần đạo lý dân tộc, và thuận lợi hơn khi họ được đào tạo bài bản, được giao đảm trách sứ mệnh nhân danh Nhà nước, bảo vệ công lý ở tuổi trưởng thành, trong môi trường tư pháp xã hội chủ nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, 75 năm qua, Tổ quốc Việt Nam trường tồn, vững mạnh, hệ thống Tòa án nhân dân từng bước trưởng thành, thành quả đó hun đúc nên niềm tin mãnh liệt của nhân dân Việt Nam nói chung, của các Thẩm phán trong hệ thống Tòa án nhân dân nói riêng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ công lý, bảo vệ nhân dân trong thời đại mới.

Vì lẽ đó, 75 năm qua hay những tháng ngày sau này, trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, niềm tin công lý là sức mạnh cốt lõi thúc đẩy và dẫn dắt từng Thẩm phán trên hành trình khẳng định vị trí, vai trò “cầm cân, nảy mực”, đáp ứng sự tin tưởng của Đảng, sự mong mỏi của gia đình, đồng nghiệp, nhân dân và bạn bè quốc tế.

  1. Cơ hội dấn thân

Dấn thân là động từ chỉ hành động, đặt trong ngữ nghĩa của sứ mệnh Người Thẩm phán nhân dân, dấn thân là một trong những biểu hiện thực tế của sự tiếp bước truyền thống xây dựng và phát triển hệ thống Tòa án nhân dân. 75 năm qua, biết bao chàng trai, cô gái gắn thanh xuân vào lịch sử, dấn thân vì sự nghiệp cách mạng bảo vệ và xây dựng Tổ quốc; bao nhiêu cán bộ, Thẩm phán Tòa án vượt qua khó khăn của mình, của đơn vị mình, tình nguyện, xung phong đến mọi miền của Tổ quốc để mang ánh sáng của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến từng người dân vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, có người đã vĩnh viễn gửi trọn cuộc đời cho nghề, có người đã để lại một phần máu thịt, tuổi thanh xuân cho sự nghiệp xây dựng và phát triển hệ thống Tòa án nhân dân. Chung quy lại, với họ – những người đã gắn tính mạng, xương máu, thanh xuân của mình vào lịch sử bảo vệ, xây dựng, phát triển đất nước nói chung, hệ thống Tòa án nhân dân nói riêng – dấn thân là biểu hiện tự sinh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là không ngại khó, ngại khổ và không vụ lợi, đặt cái chung lên trên hết, vì nhân dân mà phục vụ, vì dân tộc mà hy sinh. Sự dấn thân đó mãi mãi trường tồn và trở thành nền tảng, tạo ra cơ hội để đời sau tiếp nối!

Tiếp bước trên con đường mà Đảng, Bác Hồ và các thế hệ cha, anh đi trước đã lựa chọn, tuổi trẻ Việt Nam nói chung, Thẩm phán trẻ của hệ thống Tòa án nhân dân nói riêng đang đứng trước cơ hội để được phát huy năng lực, khẳng định tâm, thế và bản lĩnh của thế hệ kế thừa, cống hiến, dấn thân trong môi trường “thế giới phẳng”.

Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, không phải bom đạn hay đòn roi, tù đày, mà những cám dỗ của lợi ích vật chất tầm thường, những nhu cầu tự sinh của quyền lợi cá nhân, gia đình, dòng tộc và những yếu tố tác động bên ngoài truyền thống và phi truyền thống là thách thức lớn nhất đối với sứ mệnh nhân danh Nhà nước của Người Thẩm phán nhân dân trên con đường dấn thân vì một nền tư pháp cách mạng, tiến bộ của nhân dân, vì nhân dân. Trong đó, chủ nghĩa cá nhân là lực cản lớn nhất, như Bác Hồ đã dạy “…chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng…, chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng”.

Muốn toàn tâm, toàn ý dấn thân thì phải chiến thắng chủ nghĩa cá nhân. Muốn vượt qua chủ nghĩa cá nhân, trước hết Thẩm phán phải làm tròn đạo lý, trách nhiệm của một thành viên trong gia đình, trong cộng đồng; phải biết rõ chính mình, biết tường tận những đức tính, khả năng là điều kiện tiên quyết hình thành nhân cách, đạo đức của người đảng viên, Người Thẩm phán nhân dân. Gần và cụ thể nhất là Thẩm phán phải giữ đúng lời thề trước Đảng, làm tốt Điều lệ Đảng, không vi phạm những điều đảng viên không được làm, tự nguyện và gương mẫu thực thi Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán do Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia ban hành.

Con đường dấn thân cho sự nghiệp cách mạng dân tộc, dù ở thời chiến hay thời bình, không bao giờ và không ai biết trước được giới hạn về mặt thời gian và thách thức. Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khóa III, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “xây dựng chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp cực kỳ vẻ vang, nhưng phải lâu dài và gian khổ. Nhân dân ta cần phải có tinh thần phấn đấu bền bỉ, quyết tâm vượt mọi khó khăn, để giành lấy những thắng lợi mới rực rỡ hơn nữa”. Đến nay, quan điểm đó vẫn còn nguyên giá trị thời đại. Đi cùng với dân tộc, con đường dấn thân cho sứ mệnh nhân danh Nhà nước thực thi quyền tư pháp của Thẩm phán là lâu dài, là gian khổ và chắc chắn rằng một mình họ không thể bước đi trên con đường chông gai đó như kiểu “muốn đi nhanh thì đi một mình”, mà phải “muốn đi xa thì phải đi cùng nhau” – một cách biểu đạt của thời hiện đại khẳng định vai trò của sự đoàn kết!

Theo đó, muốn thực hiện đúng và trúng lời dạy của Bác: “Trong công tác xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch. Như thế cũng chưa đủ. Không thể chỉ hạn chế hoạt động của mình trong khung Tòa án. Phải gần dân, hiểu dân, giúp dân học dân. Giúp dân, học dân để giúp mình thêm liêm khiết, thêm công bằng”, thì vấn đề trước hết của yêu cầu “phải đi cùng nhau” ở lập luận trên là Thẩm phán phải “đi cùng” nhân dân trong sứ mệnh nhân danh Nhà nước thực thi quyền tư pháp. Cụ thể hơn, mỗi Thẩm phán không chỉ biết giữ mình, khiêm tốn, phấn đấu học tập, rèn luyện, nâng cao năng lực nghiệp vụ, giữ vững bản lĩnh chính trị, công tâm, khách quan trong công việc, mà còn phải đặt công việc của mình vào quyền lợi của người dân, lắng nghe và tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, đồng hành cùng nhân dân, học tập ở nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân trong thu thập chứng cứ, nhận diện, đánh giá, xem xét, quyết định các chế tài cho hành vi vi phạm pháp luật, tháo gỡ các tranh chấp, mâu thuẫn trong nhân dân. Bởi lẽ, suy cho cùng, pháp luật vừa hình thành từ đạo lý tốt đẹp được thực thi lâu dài trong đời sống nhân dân, vừa sinh ra để làm cho đạo lý ấy chuẩn mực hơn và tồn tại để phục vụ lại đời sống nhân dân, như cách lý giải “pháp luật là đạo đức tối thiểu, đạo đức là pháp luật tối đa”.

Bên cạnh đó, yêu cầu “phải đi cùng nhau” trong lập luận trên không chỉ bó hẹp ở vai trò, trách nhiệm của người Thẩm phán hay của riêng hệ thống Tòa án nhân dân. Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Theo đó, ngoài sự nỗ lực phấn đấu của hệ thống Tòa án nhân dân, của Thẩm phán với vai trò là chủ thể chính được giao thực thi quyền tư pháp, thì rất cần có sự chủ động “đồng hành” của các cấp lãnh đạo, của từng cơ quan trong bộ máy nhà nước, của xã hội, của nhân dân với Tòa án, với Thẩm phán trên con đường thực hiện quyền tư pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng. Rõ ràng rằng, sẽ rất khó để có một cơ quan thực hiện quyền tư pháp thật sự hiệu quả, nếu không xây dựng được cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp tốt; sẽ rất khó để xây dựng đội ngũ Thẩm phán tốt nếu không xây dựng được đội ngũ đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Hội thẩm nhân dân, Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý…và những người công dân tốt.

Gần gũi hơn nữa, yêu cầu “phải đi cùng nhau” trong lập luận trên cần đặt trong chính cuộc sống đời thường của người Thẩm phán, nơi mà miếng cơm, manh áo, nhu cầu an toàn tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm đang bó buộc, níu kéo và thách thức họ. Hơn bao giờ hết, các Thẩm phán đang cần được Đảng, Nhà nước, cấp trên, đồng nghiệp, đồng chí và nhân dân tiếp tục quan tâm thiết thực đến họ, tiếp tục và thực sự đồng hành cùng họ để họ có một “hậu phương vững chắc” trong quá trình thực hiện sứ mệnh của mình.

Vì lẽ đó, đã chọn nghề Thẩm phán thì phải chấp nhận dấn thân cho sự nghiệp của Đảng, của dân tộc, của hệ thống Tòa án nhân dân. Thực tiễn cho thấy các thế hệ cán bộ lão thành của hệ thống Tòa án nhân dân đã làm được điều đó và đã tạo nên một “đại lộ” cho thế hệ đời sau tiếp bước. Tuy nhiên, để có một kết quả dấn thân toàn diện và thành công hơn của đội ngũ Thẩm phán trong thời đại mới, chúng tôi mạnh dạn đề xuất rằng: trong chiến lược cải cách tư pháp, mục tiêu đầu tiên và luôn luôn chúng ta phải làm cho được là xây dựng một nền Tư pháp cách mạng ở trong và của nhân dân, có thể nói gọn hơn là Tư pháp nhân dân – một nền tư pháp theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mà ở đó các thiết chế gắn với nó phải từ nhân dân và vì nhân dân, mục đích hoạt động của nó phải làm tốt hơn yêu cầu “dân tộc độc lập, dân sinh tự do, dân quyền hạnh phúc” và lực lượng nòng cốt của nền tư pháp này là những Người Thẩm phán nhân dân.

Tóm lại, cha ông ta đã dạy: lửa thử vàng, gian nan thử sức. Những thành tựu mà 75 năm hệ thống Tòa án nhân dân đã xây dựng, những khó khăn, thách thức trong cuộc sống, trên con đường thực hiện sứ mệnh nhân danh Nhà nước để thực thi quyền tư pháp đã được phân tích ở trên, hội tụ lại thành những cơ hội để các Thẩm phán trẻ ngày nay “bung sức”, dấn thân, tiếp bước cho “Hoa công lý nở trên đầu cán cân pháp luật”.

Mong rằng các Thẩm phán trẻ đã chọn nghề thì phải yêu nghề, vững niềm tin và quyết chí dấn thân vì mục tiêu cao cả là thực hiện quyền tư pháp của nhân dân, vì nhân dân, xây dựng nhà nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như điều Bác Hồ từng mong đợi.

             Tác giả bài viết: Thẩm phán Nguyễn Văn Dũng
             Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Phòng chống dịch Covid-19 nhưng vẫn đảm bảo tiến độ giải quyết, xét xử các loại án, không để án tồn đọng kéo dài, án quá hạn luật định.

  Phòng chống dịch Covid-19 nhưng vẫn đảm bảo tiến độ giải quyết, xét xử …

X